Mở trình đơn chính

Catherine xứ Aragon

Hoàng hậu Anh, công chúa Tây Ban Nha

Catherine xứ Aragon (tiếng Anh: Catherine of Aragon; tiếng Tây Ban Nha: Catalina de Aragón; 16 tháng 12, 1485 - 7 tháng 1, 1536) là người vợ đầu tiên của Henry VIII của Anh, trở thành Vương hậu nước Anh từ năm 1509 đến năm 1533; trước đó bà từng là vợ của người anh quá cố của Henry, Arthur, Vương công xứ Wales.

Catherine xứ Aragon
Catalina de Aragón, por un artista anónimo.jpg
Vương phi xứ Wales
Tại vị14 tháng 11, 1501 – 2 tháng 4, 1502
(4 tháng, 19 ngày)
Tiền nhiệmAnne Neville
Kế nhiệmCaroline xứ Ansbach
Vương hậu nước Anh
Tại vị11 tháng 6, 1509 – 23 tháng 5, 1533
(&0000000000000023.00000023 năm, &0000000000000346.000000346 ngày)
Đăng quang24 tháng 6, năm 1509
Tiền nhiệmElizabeth xứ York
Kế nhiệmAnne Boleyn
Thông tin chung
Phối ngẫuArthur, Vương công xứ Wales
Henry VIII của Anh
Hậu duệHenry, Công tước xứ Cornwall
Mary I của Anh
Hoàng tộcNhà Trastámara (khi sinh)
Nhà Tudor (hôn nhân)
Thân phụFerdinand II của Aragon
Thân mẫuIsabella I của Castilla
Sinh16 tháng 12, 1485
Archbishop's Palace, Alcalá de Henares, Tây Ban Nha
Mất7 tháng 1 năm 1536(1536-01-07) (50 tuổi)
Lâu đài Kimbolton, Cambridgeshire, nước Anh
An táng29 tháng 1, năm 1536
Nhà thờ chính tòa Peterborough
Tôn giáoCông giáo La Mã
Chữ ký của Catherine xứ Aragon

Xuất thân là một công chúa Tây Ban Nha, Catherine là con gái út của Song vương Fernando II của AragonIsabella I của Castilla, hai vị Quân chủ Công giáo trứ danh đương thời, có thể thấy bà là người có xuất thân cao quý và hiển hách nhất trong số 6 người vợ của Henry VIII. Khi lên 3 tuổi bà được đính ước cho Vương công Arthur, anh trai của Henry và là người được định sẽ kế vị ngai vàng. Hai người kết hôn vào năm 1501, 5 tháng sau thì Vương công Arthur chết khi chỉ 15 tuổi. Năm 1507, bà trở thành nữ sứ giả, đại diện cho cha mẹ mình tại triều đình nước Anh, trở thành nữ sứ giả đầu tiên trong lịch sử Châu Âu.[1] Sau đó bà được gả cho em trai Arthur, tức là Henry, vào năm 1509, bà lớn hơn Henry 6 tuổi, lúc đó bà đã 24 tuổi còn Henry chỉ vừa 18 tuổi. Những khi Henry phải đi khỏi nước Anh, bà giữ vai trò nhiếp chính và được đánh giá cao, trong đó có việc nước Anh chiến thắng Trận Flodden trước Scotland và bà giữ vai trò hết sức quan trọng.[2]

Vào khoảng năm 1526, Vua Henry bắt đầu hứng thú và theo đuổi Anne Boleyn, em gái của người tình trước của ông là Mary Boleyn. Henry say mê Anne và quyết định hủy hôn với Catherine vì bà không sinh cho ông người con trai nào, chỉ duy nhất có cô con gái mà về sau trở thành Mary I của Anh. Tuy nhiên, ý định này của Henry gặp phải trở ngại lớn do bắt buộc phải thông qua Giáo hoàng, mà vị Giáo hoàng khi ấy là Giáo hoàng Clêmentê VII đang bị kiềm hãm bởi người cháu trai gọi Catherine bằng dì, Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh. Nhiều người tin rằng thông qua những tác động của Anne Boleyn, Vua Henry tiến hành những sự kiện khiến nước Anh dần tách khỏi Giáo hội Rôma, biến nước Anh thành một nước có giáo phái riêng gọi là Giáo hội Anh do nhà vua đích thân điều khiển. Năm 1533, Vua Henry tuyên bố hủy hôn lễ với Catherine và cưới Anne Boleyn trong giáo đường của Giáo hội Anh, bất chấp sự bác bỏ của Giáo hoàng. Cuộc ly hôn này giữa Henry và Catherine đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong toàn bộ lịch sử nước Anh, và để hạ thấp cũng như có lý do chính đáng cho việc hủy hôn với Catherine, Vua Henry đã tuyên bố Catherine là [Dowager Princess of Wales; "Vương thái phi xứ Wales"], xem Catherine là góa phụ của anh trai mình, do đó Catherine phải rời khỏi triều đình nước Anh.

Vương hậu Catherine không tán thành quyết định tự mình làm chủ Giáo hội Anh của Henry, và tự tuyên bố mình là người vợ hợp pháp duy nhất của Henry, cũng như là Vương hậu chính thống duy nhất của Anh quốc hiện tại. Sự cứng rắn của bà được tuyên dương cùng với sự ủng hộ nhiệt liệt của dân chúng[3]. Sau khi bị trục xuất khỏi triều đình nước Anh, Catherine về sống tại Lâu đài Kimbolton, tại đây bà qua đời vào ngày 7 tháng 1 năm 1536, sau 2 năm bị lưu đày bởi Henry VIII. Cái chết của bà dấy lên sự thương tiếc cho toàn bộ người dân Anh, những người về sau luôn xem bà là hình tượng kính mến của một Vương hậu nước Anh.

Infanta của Tây Ban NhaSửa đổi

Xuất thân cao quýSửa đổi

 
Catherine xứ Aragon vào năm 11 tuổi.

Catherine được sinh ra như một Infanta tại Archbishop's Palace ở Alcalá de Henares thuộc vùng Maddrid, Tây Ban Nha vào ngày 16 tháng 12 năm 1485. Nguyên tên của bà được phiên là [Catalina], nhưng được đổi thành [Katherine] hoặc [Catherine] sau khi bà qua nước Anh. Theo cứ liệu đương thời, Công chúa Catherine được mô tả có vóc dáng nhỏ,[4] khuôn mặt tròn đầy đặn, tóc đỏ, mắt xanh và nước danh sáng màu[5].

Xét về dòng dõi, Infanta Catherine có xuất thân cao nhất và hiển hách nhất trong cả 6 người vợ của Henry VIII. Cha của bà là Fernando II của Aragon, một vị quốc vương xuất thân từ dòng họ danh giá Nhà TrastámaraBán đảo Iberia, có quyền cai trị các Vương quốc Aragon, Castile, NavarreVương quốc Napoli. Mẹ bà là Nữ vương Isabella I của Castilla, con gái của Joan II xứ Castilla, xuất thân từ nhánh chính gốc của nhà Trastámara cai trị Vương quốc Castilla[6]. Xét theo bên ngoại, bà xuất xứ dòng dõi người Anh, khi có cụ tổ mẫu là Catherine xứ LancasterPhilippa xứ Lancaster đều là con gái của John xứ Gaunt, Công tước xứ Lancaster - con trai thứ của Edward III của Anh. Theo đó, Infanta Catherine là em họ 3 đời của Henry VII của Anh[7] và là em gái họ 4 đời của Elizabeth xứ York; là cha mẹ của chồng bà, Henry VIII của Anh.

Từ nhỏ, Infanta Catherine được giáo dục bởi Alessandro Geraldini, một giáo sĩ cao cấp trong triều đình của cha mẹ bà, người đã chỉ dạy Catherine nhiều thứ như số học, tôn giáo, luật pháp, văn học, lịch sử, triết họcthần học. Bà được giảng dạy rất kĩ về ngôn ngữ tiếng Latinh, tiếng Pháp, tiếng Hy Lạp và tiếng Tây Ban Nha. Ngoài ra, bà cũng được chú ý giảng giải về tôn giáo, với cốt lõi lớn là lòng mộ đạo Công giáo, điều ảnh hưởng rất lớn đến phần lớn cuộc đời bà[8].

Những môn học của bà từ cơ bản như đọc, viết, đã phát triển thành khiêu vũ, âm nhạc, vẽ, ngoài ra bà cũng rất điêu luyện trong các kỹ thuật thiên về nữ công như may vá, thêu thùa, dệt vải hay thậm chí là làm đồ trang sức riêng cho mình. Học giả lỗi lạc Erasmus nhận định, ngay từ nhỏ Catherine đã có khuynh hướng yêu thích văn học và rất thành công trong việc lĩnh hội những môn học này[9]. Những điều này khiến Infanta Catherine trở thành một trong những người phụ nữ hiếm hoi của Châu Âu có được học vấn cao và uyên bác, một điều rất hiếm vào lúc bấy giờ. Vì xuất thân của mình, bà được dự trù cho những cuộc hôn nhân quan trọng.

Định hôn ước với AnhSửa đổi

 
Arthur, Thân vương xứ Wales.

Từ những năm tuổi còn rất sớm, Infanta Catherine được nhận định là vị hôn thê rất phù hợp với Arthur, Thân vương xứ Wales, người thừa kế của Henry VII do dòng dõi nguồn gốc từ vương thất Anh mà Catherine có được từ mẹ mình.

Thực tế, Catherine là người có quyền thừa kế ngai vàng nước Anh hơn cả Henry VII, vì bà là hậu duệ của hai cuộc hôn nhân chính gốc từ John của Gaunt, Công tước xứ Lancaster: Blanche xứ LancasterConstance xứ Castile. Ngược lại, Quốc vương Henry VII nhà Tudor lại là hậu duệ của cuộc hôn nhân thứ ba của ngài Công tước Gaunt với người tình Katherine Swynford. Những người con của Katherine chỉ được thừa nhận hợp pháp mãi khi cuộc hôn nhân của họ diễn ra, và trước khi Henry VII lên ngôi thì dòng dõi này bị tước bỏ toàn bộ quyền thừa kế ngai vàng Anh do bị xem là dòng dõi không hợp pháp. Vì lý do xuất thân từ một nhánh bất hợp pháp, lại từng bị tước tư cách kế vị, nhà Tudor không được thừa nhận bởi hầu hết quốc gia Châu Âu, trừ nhà Trastámara, dòng dõi đang có uy tín nhất Châu Âu khi đó với sự trị vì của Quân chủ Công giáo, song vương Fernando II và Isabela I, cũng là cha mẹ của Catherine.

Do đó, vương tộc Tudor bằng mọi giá đã thuyết phục nhà Trastámara liên hôn, vì điều đó làm tăng sự ảnh hưởng của Trastámara cũng như lấy được uy tín của Tudor trước những quốc gia Châu Âu. Cặp đôi được kết hôn ủy nhiệm vào ngày 19 tháng 5 năm 1499 và trao đổi qua thư từ bằng ngôn ngữ quốc tế khi ấy, tiếng Latinh. Khi Arthur đã 15 tuổi, cả hai mới chính thức kết hôn[10].

Khi Infanta Catherine đến London, bà được hộ tống bởi những quan chức cấp cao của triều đình cha mẹ bà, gồm Diego Fernández, Bá tước Cabra, Giám mục Alonso của Santiago de CompostelaGiám mục Antonio của Mallorca, còn Thị tùng của Catherine được giám sát bởi Elvira Manuel. Ngoài ra, đoàn hộ tống của bà đã mang theo một đoàn tùy tùng người Châu Phi, trong đó có lính thổi kèn John Blanke. Họ là những người Châu Phi đầu tiên đến London được ghi nhận và điều này khiến triều đình cũng như dân chúng London bàn tán về sự hùng mạnh của gia đình vị Infanta đến từ bên kia đại dương[11].

Vương phi xứ WalesSửa đổi

 
Bức tranh thảm phong cách Flemish, tái hiện hôn lễ giữa Catherine và Arthur.

Catherine và Arthur gặp nhau vào ngày 4 tháng 11 năm 1501, tại Dogmersfield, Hampshire[12][13][14]. Không ai biết rõ cả hai cảm nhận về nhau ra sao, nhưng Arthur sau đó đã viết thư cho bố vợ tương lai rằng sẽ là một người chồng đích thực và yêu thương cô dâu của mình, Arthur còn nói cha mẹ của mình rằng ông rất hạnh phúc khi nhìn ngắm khuôn mặt của cô vợ tương lai đáng yêu. Cả hai trao đổi bằng tiếng Latinh, nhưng ít khi hiểu nhau rõ ràng vì cả hai tuy cùng học tiếng Latinh nhưng lại có phát âm khác nhau[15]. Vào ngày 14 tháng 11, cặp đôi kết hôn ở Nhà thờ cũ St Paul's[7][16]. Một của hồi môn trị giá 200.000 crowns được thỏa thuận[17].

Sau khi kết hôn, Arthur chuyển đến Lâu đài Ludlow, nơi Arthur thực hiện bổn phận của mình như một Vương công xứ Wales là chỉ huy Hội đồng xứ Wales và Marches (The Council of Wales and the Marches). Catherine với tư cách là Vương phi xứ Wales cũng đi theo Arthur, cả hai cùng ở tại Lâu đài Lodge trong vùng Ludlow. Chỉ trong vài tháng sau, tai họa ập đến khi cơn bệnh Hãn nhiệt (Sweating sickness) ập xuống khiến cả hai vợ chồng trẻ ngã quỵ. Đó là một đại dịch đã lan tỏa khắp toàn bộ khu vực của nước Anh. Cơn dịch đã cướp đi sinh mạng của Arthur vào ngày 2 tháng 4 năm 1502, chỉ duy nhất Catherine sống sót qua cơn bệnh[18].

Vào lúc này, Henry VII đối diện với việc trao trả toàn bộ số hồi môn 200.000 crowns, một nửa trong số đó chưa được bàn giao, vì Catherine theo lệ sẽ bị gọi về và tái giá[19]. Sau cái chết của Vương hậu Elizabeth vào tháng 2 năm 1503, Henry VII dự tính sẽ cưới Catherine làm Kế hậu nhằm giữ lại quyền đòi hỏi số hồi môn hời này, nhưng vì sự phản đối của Vua Ferdinand II cùng sự bất hợp pháp gay gắt, ý tưởng này nhanh chóng tiêu tan[20].

Để đối phó, Henry VII nên duyên Catherine với em trai của Arthur, Henry, Công tước xứ York, người nhỏ hơn Catherine tới 5 tuổi. Tuy nhiên, cái chết của Nữ vương Isabel ngay lúc này làm giảm đi đáng kể giá trị của Catherine trong cuộc buôn bán hôn nhân này. Vương quốc Castile là một quốc gia rộng lớn hơn rất nhiều so với Aragon, và sau cái chết của Isabel thì người kế vị là người chị thần trí không ổn định của Catherine, Juanna. Cuộc hôn nhân bị hoãn để đến khi Henry đủ tuổi, nhưng quốc vương Ferdinand II cứ trì trệ mãi trong việc bàn giao một nửa số hồi môn còn lại khiến triều đình 2 bên nghi ngờ liệu cuộc hôn nhân có thể diễn ra như đã dự định. Trong thời gian này, Catherine gần như là một tù nhân chính trị tại Durham House[21].

Năm 1507, Catherine chính thức trở thành nữ sứ giả nhân danh cha mình tại nước Anh, trở thành nữ sứ giả đầu tiên trong lịch sử Châu Âu[1]. Henry VII cùng các cận thần hi vọng sẽ dễ dàng điều khiển Catherine, nhưng bà đã khiến họ thất vọng bởi sự cương quyết và bản lĩnh của mình[1].

Vương hậu nước AnhSửa đổi

Tái hôn với Henry VIIISửa đổi

 
Bản khắc gỗ lễ đăng quang của Henry và Catherine, thế kỉ thứ 16.
 
Phù hiệu của Catherine khi là Vương hậu của nước Anh.

Cuộc hôn nhân giữa Catherine và Henry còn bị hoãn là do Giáo hoàng cần làm một cuộc miễn trừ vì luật Công giáo cấm người em trai cưới quá phụ của anh mình[22]. Catherine phản hồi rằng cuộc hôn nhân của mình với Arthur chưa hoàn thành (tức là chưa động phòng), và theo luật Công giáo cuộc hôn nhân chưa được hoàn thành thì nó không có giá trị[23][24].

Sau khi cuộc hôn nhân giữa Catherine và Arthur được tuyên bố vô hiệu lực, Công nương Catherine thành hôn với em trai của Arthur, Quốc vương Henry VIII của Anh. Lễ thành hôn diễn ra vào ngày 11 tháng 6 năm 1509, khoảng 7 năm sau cái chết của Arthur và chỉ tầm 2 tháng sau khi Henry VIII kế vị (ông kế vị ngày 22 tháng 4 cùng năm)[25]. Buổi lễ được diễn ra khá riêng tư tại một nhà thờ thuộc Dòng Phan Sinh ở bên ngoài Greenwich Palace[26][25].

Vào ngày 23 tháng 6 cùng năm, triều đình Anh chuẩn bị lễ đăng quang cho Quốc vương và Vương hậu, theo thông lệ thì cả hai sẽ qua đêm cùng nhau ở Tháp London. Sang ngày hôm sau, 24 tháng 6, là ngày Chủ nhật và cũng là Hạ chí, Henry và Catherine đều được sức dầu thánh và trao Vương miện cùng nhau tại Tu viện Westminster, bởi Tổng giám mục Canterbury tên William Warham. Sau buổi lễ đăng quang, triều đình tổ chức một biểu tiệc linh đình tại đại sảnh của Cung điện Westminster, kèm theo đó là hàng loạt người được phong Hiệp sĩ để chức mừng đôi Vương-Hậu mới của Vương quốc Anh. Khi đó, Catherine đã 23 tuổi, còn Henry mãi 4 ngày sau mới vừa tròn 18 tuổi.

Những lần sinh nởSửa đổi

Trong cuộc hôn nhân hơn 20 với Henry VIII, Catherine xứ Aragon có 7 lần mang thai. Lần thứ nhất là từ tháng 8 năm 1509, 2 tháng sau hôn lễ, và bà hạ sinh ra một cô con gái chết non vào ngày 31 tháng 1 năm 1510. Đến tháng 5 năm 1510, 4 tháng từ khi mất đi đứa con đầu lòng, Catherine mang thai, và bà hạ sinh Henry, Công tước xứ Cornwall vào ngày 1 tháng 1 năm 1511, khiến Henry VIII vui mừng khôn xiết. Một loạt họng súng đã được khai hỏa, chúc mừng đứa con trai đầu lòng của nhà vua. Khoảng 5 ngày sau khi sinh, vào ngày 6 tháng 1 cùng năm, Henry được làm lễ rửa tội tại Cung điện Richmond. Nhưng niềm hi vọng nhỏ này của Henry và Catherine chỉ sống đến ngày 22 tháng 2 năm ấy, qua đời khi chỉ mới 52 ngày tuổi.

Đầu năm 1513, Catherine lại mang thai, lúc này Henry VIII đang ở Pháp và Catherine có nghĩa vụ nhiếp chính, bảo vệ nước Anh khỏi Scotland. Đến ngày 17 tháng 9 năm ấy, Catherine hạ sinh một đứa bé trai, và cũng như những người con trước, đứa cont rai này của Catherine cũng nhanh chóng qua đời sau vài ngày được sinh ra.

Tháng 6 năm sau, Catherine lại mang thai, và ngày 8 tháng 1 năm 1515, bà sinh hạ một đứa bé trai chết yểu. Mùa hè năm ấy, sau tầm 5 tháng mất đi đứa con nhỏ, Catherine lại mang thai, lần này thì ít ai kì vọng vào người thừa kế, vì những lần sinh nở thất bại của Catherine khi trước. Ngày 18 tháng 2 năm 1516, tại Cung điện Greenwich ở Kent, Catherine sinh hạ một bé gái, ấy là Mary I của Anh. Khoảng 3 ngày sau (ngày 21 tháng 2), Mary được làm lễ rửa tội hết sức hoành tráng tại Nhà thờ dòng Phan Sinh. Vua Henry VIII lúc đó rất buồn, song trấn an vợ mình rằng nếu là một đứa bé gái khỏe mạnh, thì lần sau nhất định sẽ là một đứa con trai. Khoảng năm 1517, Catherine bị sẩy thai. Đến tháng 2 năm 1518, Catherine mang thai lần thứ 7, và cũng là lần cuối cùng trong đời bà. Vào tháng 3 năm đó, bà đến Trường đại học Merton ở Oxford, làm lễ hành hương đến Miếu thờ của St Frideswide, cầu nguyện mình mang một đứa con trai khỏe mạnh. Ngày 10 tháng 11 năm ấy, Catherine sinh hạ một bé gái, và đứa bé này quá yếu nên chết non chỉ sau vài giờ.

Những lần mang thai liên tục ngay sau khi sẩy thai hoặc sinh non mà không có thời gian chữa trị, cộng thêm ngày càng lớn tuổi, là những nguyên nhân được coi là nguyên nhân cốt yếu khiến Catherine không thể mang thai những đứa trẻ khỏe mạnh. Và việc mang thai không ngừng này có lẽ không phải từ phía nhận thức y học kém, mà là do Henry VIII quá nôn nóng có một đứa con trai, dẫn đến chính ông đã tự hủy hoại vợ mình.

Sự ảnh hưởngSửa đổi

Vào ngày 11 tháng 6 năm 1513, Henry đã ủy nhiệm Catherine trở thành nhiếp chính của nước Anh khi ông phải đến nước Pháp tiến hành chiến dịch quân sự. Địa vị của Catherine, đầy đủ là [Governor of the Realm and Captain General], nghĩa là "Người quản lý toàn quốc, kiêm nhiệm Đại đô thống", chính điều này đã cho phép Catherine nắm đại quyền lớn nhất của Vương quốc Anh[27].

Khi Công tước Louis I d'Orléans bị bắt tại Thérouanne, Henry đã gửi ông ta đến chỗ của Catherine, nhưng bà đã chỉ định Thomas Wolsey giam cầm vị Công tước người Pháp vào tháp London để đối phó với quân đội Scotland đang nhăm nhe ở phương Bắc. Vào lúc ấy, nước Anh đang mạnh mẽ, trong khi nước Anh không đủ tài lực để đối phó, chính Catherine phải viết với Wolsey rằng: [God to sende us as good lukke against the Scotts, as the King hath ther][28]. Bà bận rộn điểm danh quân đội tại Lâu đài Richmond, sang ngày 3 tháng 9, Catherine chỉ định Thomas Lovell triển khai thúc quân chống lại quân đội Scotland[29]. Sau khi điều động Thomas Lovell, đích thân Catherine đã trang bị áo giáp, cưỡi ngựa và phía Bắc[30]. Trận Flodden Field diễn ra, quân Anh chiến thắng, tin báo về đến Catherine khi bà ở gần Buckingham, cách London tầm 160 km về phía Bắc[31]. Từ Tu viện Woburn, Catherine gửi tin báo mừng chiến thắng cho Henry, kèm theo áo choàng dính đầy máu của Vua James IV của Scotland - người đã tử trận trong cuộc chiến, và Henry đã dùng nó như một chiến lợi phẩm trong cuộc vây hãm thành Tournai[32].

 
Hoàng đế Karl V của Thánh chế La Mã. Ông là người cháu gọi bằng dì của Catherine.

Tôn giáo của Catherine ảnh hưởng khắp nước Anh, khi là thành viên của hội Thánh Phanxicô thành Assisi, đặc biệt là khi bà càng trở nên già đi, thậm chí là sau khi bà đã ly hôn với Vua Henry VIII mãi sau này[33]. Những nghiên cứu học thuật hàn lâm về tôn giáo của bà càng trở nên rộng rãi, khi bà dành tâm huyết giáo dục con gái Mary. Những Thị tùng trong đoàn tùy tùng của bà nhận được một sự giáo dục tôn giáo dồi dào, và Catherine cũng tự huy động được tiền tài để tích góp cho các trường đại học - những ngôi trường học thuật chỉ chuyên nghiên cứu về thần học của Công giáo vào thời điểm ấy. Và dù là người Công giáo, nhưng Catherine tin đạo cũng chỉ là những cầu khẩn và thành tâm, hơn là những vật chất xa hoa trong những ngày thánh lễ hoành tráng, những thứ được dùng bởi tiền của dân nghèo. Những ý tưởng này của Catherine về những nhược điểm và sự vận hành của Công giáo La Mã, về sau lại trở thành những luận điểm mà Martin Luther dùng tại Wittenberg khi thuyết giáo công khai, tạo thành cơ sở cho việc hình thành phong trào Cải cách Kháng nghị[34]. Khoảng năm 1523, Alfonso de Villa Sancta, một Tu sĩ dòng Observant, một nhánh dòng Phan Sinh, đã đến gặp Catherine, trình bày cuốn De Liberio Arbitrio adversus Melanchthonem lên án Philip Melanchthon, một người ủng hộ học thuyết Kháng Cách của Luther. Và với vai trò như thầy tu nghe lời xưng tội của người Thiên chúa giáo, Alfonso de Villa Sancta đã giới thiệu Catherine cuốn Fidei defensor của mình để bác bỏ những lý luận của Luther[35].

Tuy vậy, mặc cho những đóng góp tích cực trong vấn đề học vấn và tôn giáo trong nước Anh của Catherine, Vua Henry VIII vẫn yêu cầu Catherine hoàn thành nghĩa vụ của một người vợ, sinh hạ người thừa kế cho ông. Điều này bởi vì nhà Tudor khi ấy vẫn còn mới, Thời kỳ hỗn loạn năm xưa cũng chính là khi vua Henry I của Anh vô chủ, nảy ra sự cạnh tranh của con gái ông (Hoàng hậu Matilda) với cháu ông (Stephen của Anh), dẫn đến cuộc nội chiến kéo dài. Bên cạnh đó, cuộc Chiến tranh Hoa Hồng chỉ vừa kết thúc chục năm trước, vẫn còn dư âm trong suốt quá trình Henry VIII lớn lên, do đó ông càng mong một đứa con trai để củng cố ngai vàng nhà Tudor.

Năm 1520, cháu của Catherine là Hoàng đế Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh đến Anh để thăm dì của mình, sau khi ông thành công thừa hưởng tước vị Hoàng đế La Mã Thần thánh sau cái chết của ông nội, Maximilian I.

Trong dịp này, Catherine đề nghị một liên minh giữa Anh và Thánh chế La Mã, hơn là với Pháp. Ngay lập tức, Catherine cùng chồng mình được mời đến Pháp, dự buổi tiệc của vua Francis I của Pháp gọi là Camp du Drap d'Or, cả hai dự định liên minh để chống lại Đế quốc Ottoman ở phía Đông, song lại không có hi vọng gì sau sự chạm trán đầy khó chịu giữa hai vị Quốc vương đầy tính cạnh tranh nhau. Trong vòng 2 năm tiếp theo, Henry VIII đã có ý liên minh với Thánh chế La Mã, một cuộc đàm phán diễn ra, theo thỏa thuận đó thì Mary có thể sẽ đính hôn ước với Hoàng đế Karl V, cả hai là anh em họ mẹ, vì mẹ của Hoàng đế là Juana của Castilla, chị của Catherine. Những năm sau, Hoàng đế Karl V đi vào cuộc chiến tranh với Pháp, sau khi nhà Habsburg có được liên kết với Burgundy thông qua Mary của Burgundy - bà nội của Karl V.

 
Henry VIII và Catherine tại sự kiện Camp du Drap d'Or.

Dưới sự ủng hộ yếu ớt từ Anh, Thánh chế La Mã giành chiến thắng tại Trận Pavia, bắt Vua Francis I giam cầm và khiến mẹ của nhà vua, Louise xứ Savoy thậm chí phải thỏa hiệp với Hoàng đế Ottoman là Suleiman I để tìm cách cứu con trai mình. Vua Henry VIII của Anh cảm thấy mình không có lợi khi dính vào liên minh này, nên sau khi chiếm được một phần phía Bắc của Pháp, ông quyết định ký hiệp ước hòa bình. Sau việc đó, quan hệ của Vua Henry đối với Karl V trở nên không thoải mái, điều này cũng ảnh hưởng đến chính bản thân Vương hậu Catherine, vì bà là dì của Hoàng đế và có liên hệ mạnh với Giáo hoàng.

Giữa lúc ấy, Henry lại tìm kiếm những tình nhân và có một đứa con trai ngoài giá thú, Henry FitzRoy, Công tước xứ Richmond và Somerset. Mẹ của Henry FitzRoy là Elizabeth Blount, một Thị tùng của Catherine, con gái một quý tộc bản địa Anh là Sir John Blount. Thực tế, việc Elizabeth thu hút Vua Henry xảy ra từ khoảng năm 1514, vào những lúc Catherine đang mang thai. Thế nhưng mãi đến năm 1518, nhà vua mới cật lực theo đuổi Elizabeth, sau khi Catherine vừa để rơi niềm hi vọng mang thai cuối cùng của mình, và kết quả là Henry FitzRoy. Cái họ [FitzRoy] của Henry, có nghĩa là "Con trai của nhà vua", và đây là đứa con trai ngoài giá thú duy nhất mà ông công nhận trong số những đứa con dính nghi kị của các tình nhân khác của ông, mà nổi tiếng nhất là hai người con họ Carey của Mary Boleyn. Sau sự việc, Elizabeth được sắp xếp kết hôn với Gilbert Tailboys, Nam tước Tailboys thứ nhất xứ Kyme.

The King's Great MatterSửa đổi

Rắc rối từ nhiều phíaSửa đổi

 
Anne Boleyn, đang khát vọng làm Vương hậu.

Vào khoảng năm 1525, Henry VIII bắt đầu để ý đến Anne Boleyn, em gái của một trong những Thị tùng của Catherine, đồng thời cũng là tình nhân của nhà vua, Mary Boleyn. Cả hai chị em nhà Boleyn đều là con gái Sir Thomas Boleyn, một nhà ngoại giao có tiếng đương thời. Trong khi Mary phóng đãng, khi trước còn là tình nhân của Francis I của Pháp, thì Anne lại là một người khôn ngoan trong nghệ thuật giao tiếp, xinh đẹp và thông minh, do đó khiến Vua Henry không thể cưỡng lại[36].

Người ta tin rằng Anne Boleyn đã kháng cự mời gọi của nhà vua vì không muốn trở thành tình nhân như chị mình, bà thường đến Lâu đài Hever để tránh sự dòm ngó của nhà vua. Tuy nhiên chỉ trong vòng 1 năm sau, nhà vua ngỏ lời cầu hôn và Anne chấp nhận, cả hai đều tự tin rằng việc nhà vua ly hôn với Vương hậu Catherine chỉ là vấn đề nhỏ. Sau 7 lần sinh nở với 6 lần chết non và sẩy thai, đến lúc này Vua Henry tin rằng cuộc hôn nhân giữa mình và Catherine là tội lỗi, vì theo Kinh thánh thì việc này là trái đạo và phẩm đức của người phụ nữ. Và dù Catherine quả quyết mình vẫn còn là trinh nữ khi Arthur qua đời, thì Vua Henry vẫn dựa vào Kinh thánh để chỉ ra rằng chỉ việc kết hôn thôi đã là tội lỗi trong mắt Chúa trời, và đổ lỗi cho Giáo hoàng Julius II khi xưa đã "tiếp tay" cho việc này[24]. Những điều này khiến ông muốn tiến hành ly hôn, và muốn trực tiếp tuyên bố Annulment việc hôn nhân giữa mình và Catherine. Lịch sử gọi đấy là [The King's Great Matter; hay "Đại sự của nhà vua"].

Ly hôn, trong ngôn ngữ Việt Nam hiện tại chỉ đến người chồng và người vợ đã hết hiệu lực về hôn nhân trên pháp lý và tiến hành chia tài sản. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ Anh, tuy cùng được dịch thành ly hôn hay hủy hôn, nhưng ["Annulment"] rất khác so với ["Divorce"]. Theo "Annulment", thì hôn nhân giữa hai người đã bị xem là không tồn tại, những người con của hai người sẽ bị xem là con ngoại hôn, còn "Divorce" lại xem cả hai đã từng kết hôn và chỉ thực hiện việc phân ly tài sản cùng nghĩa vụ chăm sóc con cái, những người con từ "Divorce" vẫn được xem là con hợp pháp của một hay cả hai người. Và trong trường hợp của Vua Henry, nhà vua muốn "Annulment" cuộc hôn nhân với Catherine, khiến cho con của hai người, Mary, sẽ thành con ngoại hôn (nói thô tục là con hoang) nếu thực sự được chấp nhận.

 
"Trial of Catherine of Aragon", minh họa Cuộc xét xử dành cho Catherine khi Henry VIII muốn hủy hôn để cưới Anne Boleyn.

Việc muốn hủy hôn của Henry VIII với Catherine trở thành một chủ đề lớn và trọng đại bậc nhất lịch sử Anh, việc mà có lẽ bản thân nhà vua cũng không ngờ tới[37]. Điều này càng trở nên gay gắt khi Catherine được nhà vua bí mật gợi ý việc đi tu vào một Tu viện nào đó, bà đã cảm thấy bị xúc phạm và đáp lại: ["Chúa chưa hề kêu gọi ta trở thành Nữ tu. Ta là người vợ đúng nghĩa và hợp pháp của đức vua!"; God never called me to a nunnery. I am the King's true and legitimate wife][38]. Không tiếp nhận sự đồng tình từ bà, Henry VIII quyết định tìm kiếm một chút sự hợp pháp qua Tòa Thánh, mà đại diện của ông là Hồng y Thomas Wolsey sắp đặt. Ban đầu, nhà vua phái thư ký của mình là William Knight đến gặp Giáo hoàng Clement VII để yêu cầu hủy hôn với Catherine, với lý do nền tảng là chất vấn sai lầm của Giáo hoàng Julius II khi xưa. Giáo hoàng Clement VII khi ấy là tù nhân của cháu của Catherine, Hoàng đế Karl V, sau cuộc Cướp phá thành Rome năm 1527, do đó Knight rất khó tiếp cận ông. Do vậy, Henry VIII đành phải đặt chuyện "Đại sự" này vào tay Wolsey, một vị Hồng y tham vọng, tìm thấy cơ hội ảnh hưởng của mình nếu sự việc thành công, nên chấp nhận tìm mọi cách để nhà vua vui lòng.

Hội đồng của WolseySửa đổi

Hồng y Wolsey đã triệu tập một Hội đồng tôn giáo, với không ít người của mình và 1 đại diện của Giáo hoàng, sau đó yêu cầu Vua Henry và chính Catherine đến nhận sự xét xử. Giáo hoàng vì không muốn bất kỳ quyết định nào làm ảnh hưởng nước Anh, nên đã gọi người đại diện của mình về. Không rõ bao nhiêu phần là vì Hoàng đế Karl V ảnh hưởng lên Giáo hoàng Clement VII trong quyết định này, nhưng rất hiển nhiên mà Vua Henry tin rằng Giáo hoàng không muốn chấp nhận hủy hôn là vì Catherine là dì của Hoàng đế[39].

Vào lúc ấy, Giáo hoàng Clement VII không muốn chọc giận cả Hoàng đế và Vua Anh, nên trì hoãn sự việc đến 3 tháng. Việc kéo dài này khiến Vua Henry và Anne Boleyn tức điên, và nhà vua bắt đầu tin Wolsey không thật sự trung thành với mình. Sau nhiều lần Wolsey liên lạc và thuyết phục, Giáo hoàng Clement VII quyết định ủy cho 2 người giải quyết: bản thân Wolsey và Hồng y Lorenzo Campeggio. Nhưng Hồng y Campeggio đến rất muộn, để đến tháng 6 năm 1529, khiến cho sự việc càng thêm lơ lửng. Sau đó, có một cuộc "phán xét" do Wolsey đứng đầu diễn ra, và sự biên diễn này của Wolsey thất bại nặng nề với thái độ quả quyết của Catherine, đồng thời Vua Henry còn bị Giáo hoàng ra luật cấm tái hôn bất kỳ trường hợp nào cho đến khi có quyết định từ Tòa Thánh. Sự kiện này được gọi là [Legatine Court] hay [Legatine Trial] trong lịch sử, một trong những dấu mốc quan trọng nhất không chỉ của Catherine mà còn với lịch sử nước Anh.

Thời gian diễn ra sự việc là vào ngày 21 tháng 6 năm 1529 tại Blackfriars, sau khi Hồng y Campeggio đến để giải quyết việc ly hôn này, với tư cách là người đại diện của Giáo hoàng. Trước đó, vào ngày 18 tháng 6, nhà vua và Catherine được triệu tập đến tòa án. Nhà vua đã phái đặc viên Richard Sampson cùng Dr John Bell, nhưng Catherine quyết định tự mình xuất hiện cùng các Thị tùng và một Giám mục, người được chọn để thay bà nói chuyện với tòa án. Henry Ansanger Kelly giải thích rằng Catherine đã rất khôn ngoan khi "nhận thấy rõ điều căn bản rằng, việc bà ở đó và nói bất kỳ điều gì cũng khiến các thẩm phán này lấy đó làm bằng để đưa ra các phán quyết bất lợi. Và điều này cũng không làm giảm đi những tác động ảnh hưởng lên Giáo hoàng". Bà nhận thấy rõ cả hai thẩm phán này đều là người thân cận của nhà vua, cũng như thấy sự bất thường của phiên tòa này trong khi vấn đề vẫn chưa được giải quyết trọng yếu ở thành Rome. Sau đó, phiên tòa đã thu nhận kháng nghị của Catherine, và đến ngày 21 sắp tới sẽ cho bà câu trả lời.

Đến ngày 21 tháng 6 năm ấy, Vua Henry VIII cùng xuất hiện với Catherine tại phiên tòa. Theo như lời của George Cavendish - một người phụ tá cho Hồng y Wolsey, nhà vua mặc một bộ trang phục long trọng, còn Vương hậu thì ngồi ở một chỗ xa và thấp hơn nhà vua. Những người tham gia cuộc phán xử này, gồm Stephen Gardiner là người ghi lại biên bản, Đại Giám mục Canterbury là William Warham, cùng Richard Sampson và Thomas Abel là cố vấn cho nhà vua, trong khi Giám mục Rochester là John Fisher cùng Giám mục St Asaph là Cuthbert Tunstall đều đại diện cố vấn cho Vương hậu. Người ủy nhiệm của Giáo hoàng, đã đọc biên bản chính thức bắt đầu phán xử, cùng lời triệu gọi dành cho nhà vua: [“King Henry of England, come into the court"]. Vua Henry VIII vào và đáp lại: [“Here, my lords"]. Sau đó, lại hô gọi Vương hậu Catherine vào: [“Catherine, Queen of England, come into the court”]. Không đáp lại như nhà vua, Catherine chỉ biểu thị sự hiện diện của mình khi bước vào tóa án, đối diện với nhà vua và quỳ xuống. Vào lúc này, theo học giả David Starkey, Catherine đã làm một bài diễn văn mà đời sau gọi là “the speech of her life”[40], nội dung như sau:

Sir, I beseech you for all the loves that hath been between us, and for the love of God, let me have justice and right, take of me some pity and compassion, for I am a poor woman, and a stranger born out of your dominion. I have here no assured friend, and much less indifferent counsel. I flee to you as to the head of justice within this realm.

Alas! Sir, wherein have I offended you, or what occasion of displeasure? Have I designed against your will and pleasure; intending (as I perceive) to put me from you? I take God ansd all the world to witness, that I have been to you a true, humble and obedient wife, ever comfortable to your will and pleasure, that never said or did any thing to the contrary thereof, being always well pleased and contented with all things wherein you had any delight or dalliance, whether it were in little or much. I never grudged in word or countenance, or showed a visage or spark of discontentation. I loved all those whom ye loved, only for your sake, whether I had cause or no, and whether they were my friends or my enemies. This twenty years I have been your true wife or more, and by me ye have had divers children, although it hath pleased God to call them out of this world, which hath been no default in me.

And when ye had me at first, I take God to my judge, I was a true maid, without touch of man. And whether it be true or no, I put it to your conscience. If there be any just cause by the law that ye can allege against me either of dishonesty or any other impediment to banish and put me from you, I am well content to depart to my great shame and dishonour. And if there be none, then here, I most lowly beseech you, let me remain in my former estate and receive justice at your hands. The King your father was in the time of his reign of such estimation thorough the world for his excellent wisdom, that he was accounted and called of all men the second Solomon; and my father Ferdinand, King of Spain, who was esteemed to be one of the wittiest princes that reigned in Spain, many years before, were both wise and excellent kings in wisdom and princely behaviour. It is not therefore to be doubted, but that they elected and gathered as wise counsellors about them as to their high discretions was thought meet. Also, as me seemeth, there was in those days as wise, as well learned men, and men of as good judgment as be at this present in both realms, who thought then the marriage between you and me good and lawful. Therefore it is a wonder to hear what new inventions are now invented against me, that never intended but honesty. And cause me to stand to the order and judgment of this new court, wherein ye may do me much wrong, if ye intend any cruelty; for ye may condemn me for lack of sufficient answer, having no indifferent counsel, but such as be assigned me, with whose wisdom and learning I am not acquainted. Ye must consider that they cannot be indifferent counsellors for my part which be your subjects, and taken out of your own council before, wherein they be made privy, and dare not, for your displeasure, disobey your will and intent, being once made privy thereto.

Therefore, I most humbly require you, in the way of charity and for the love of God – who is the just judge – to spare me the extremity of this new court, until I may be advertised what way and order my friends in Spain will advise me to take. And if ye will not extend to me so much indifferent favour, your pleasure then be fulfilled, and to God I commit my cause!”

Nội dung của lời diễn văn dài này, là để khẳng định địa vị không sai sót nào của mình khi làm Vương hậu, và thêm khẳng định rằng bà vẫn còn là trinh nữ trước khi kết hôn với Vua Henry VIII - lý do chính yếu khiến nhà vua muốn ly hôn với bà.

Sau khi nói xong, Catherine đứng lên, nhún trước nhà Vua khá từ tốn và bước ra khỏi tòa án, mặc cho Hồng y Wolsey cố gắn ngăn cản bà và ép bà ngồi xuống đê tiếp tục cuộc phán xét này. Bà đáp lại rằng: ["Cứ tiếp tục việc của các người. Đây không phải là một phiên tòa công bằng dành cho ta, nên ta cũng chẳng phí thời giờ mà nán lại đây!"]. Sau khi bà đi khỏi, Vua Henry VIII sau mấy phút ngưng thần, đáp lại tòa án với lời nói mà ông đã nói vào năm 1528 tại Cung điện Bridewell khi trước[41]. Cơ bản là tán dương đức tính của Catherine. Việc này khiến Hồng y Wolsey đứng trước nguy cơ là khơi mào cho một phiên tòa ngớ ngẩn, ông ta quay sang nhà vua và xin hãy xác nhận ông ta không phải là "kẻ chủ mưu và khơi mào cho chuyện này", nhưng Vua Henry VIII đáp lại với đầy sự cảnh cáo: ["Này, ngài Hồng y, ta có thể tha thứ cho ngài vào lúc này. Đừng nên chống lại ta"].

Thất bại ê chề, Hồng y Wolsey bị nhà vua nghi ngờ và căm ghét cho sư việc ngớ ngẩn này của mình. Sau đó, ông liên tục bị bãi miễn toàn bộ chức vị từ năm 1529, dần mất đi vị thế của mình tại Anh. Sau phiên tòa thảm hại, Lady Anne Boleyn, người thèm khát ngai vị Vương hậu, từ đồng minh với Wolsey, nay lại bắt đầu thù ghét Wolsey và tìm cách hạ bệ Wolsey cho sai lầm của mình. Đến khi Wolsey bí mật muốn lấy lòng Giáo hoàng mà lên kế hoạch đày ải Anne Boleyn rời khỏi nước Anh, Vua Henry bắt giữ ông và phán vào tội phản quốc. Ông cũng qua đời không lâu, được cho là bị Vua Henry ép phải tự sát[42].

Sự đày ải và những người ủng hộSửa đổi

 
Con gái của Catherine, công chúa Mary.

Một năm sau (1530), Catherine bắt đầu bị ly khai khỏi triều đình, toàn bộ phòng ốc của bà được để cho Lady Anne Boleyn. Và năm tiếp theo, 1531, Catherine đã viết thư cho Hoàng đế Karl V rằng:

Khi Đại Giám mục của of Canterbury là William Warham qua đời, một Giáo sĩ làm việc cho nhà Boleyn tên Thomas Cranmer đã được đưa vào thay thế và tiếp tục cùng Vua Henry ngầm tiến hành việc ly hôn với Catherine, mực tiêu đưa Anne Boleyn lên làm Vương hậu[45].

Vào lúc vụ việc của Catherine xảy ra, John Fisher là một trong những người khuyên can nhà vua, đồng thời là người ủng hộ bà nhiều nhất. Khi ông trở thành người đại diện của Giáo hoàng trong triều vì vụ án của bà, ông đã khiến Hội đồng ngạc nhiên vì lời lẽ cực kỳ thẳng thắng, chỉ trích sự suy đồi của nhà vua, y hệt như Thánh Gioan Baotixita, ông đã rất sẵn sàng đón nhận cái chết để bảo vệ cuộc hôn nhân này. Vua Henry đã rất tức giận khi viết thư đáp lại cho Fisher, bức sao chép lại phúc đáp của Fisher dành cho lá thư của nhà vua vẫn còn được giữ lại ngày nay, có thể thấy rõ ông chẳng hề sợ hãi bất kì điều gì từ nhà vua. Và tuy thành Rome đã kết thúc sự đại diện của Fisher sau thất bại của Wolsey, nhưng Henry VIII không bao giờ tha cho ông[46][47].

Ngoài Jisher, những người ủng hộ Catherine trong việc này còn có nhiều nhân vật có địa vị hoặc vang danh trong lịch sử, là Đại Chưởng ấn Thomas More, em gái ruột của nhà vua là Công chúa Mary, Thị tùng người Tây Ban Nha của Catherine là María de Salinas, Hoàng đế Karl V của Thánh chế La Mã, người đứng đầu Công giáoGiáo hoàng Paul III, cùng hai nhà hoạt động cải cách Tin Lành trứ danh, Martin Luther[48]William Tyndale[49].

Cuối đờiSửa đổi

Năm 1532, sau khi trở về Dover từ Calais, Henry VIII và Anne Boleyn bí mật kết hôn vào ngày 14 tháng 11, Anne ngay lập tức mang thai, và để cho hôn nhân giữa Vua Henry và Catherine chính thức bị xem là phạm pháp, Anne và nhà vua đã tổ chức một buổi lễ long trọng hậu đám cưới ở London, vào ngày 25 tháng 1 đầu năm sau. Vua Henry tuyên bố bảo vệ cuộc hôn nhân này bằng cách chỉ điểm rằng Catherine và Arthur đã từng kết hôn, và nếu cả hai đã động phòng, điều mà nhà vua quả quyết bất chấp lời biện hộ của Catherine, thì nhà vua có quyền tái hôn bất kỳ lúc nào.

 
Catherine xứ Aragon những năm cuối đời, minh họa thế kỉ 19.

Ngày 23 tháng 5 cùng năm, Thomas Cranmer thăng tọa Hội nghị tại Tu viện Dunstable, tuyên bố hôn nhân giữa Henry VIII và Catherine đã không còn giá trị. Sau đó 5 ngày, tức ngày 28 tháng 5, Cranmer tuyên bố hôn nhân giữa Henry VIII và Anne Boleyn chính thức có hiệu lực[50]. Mặc dù vậy, từ đây đến tận khi qua đời, Catherine vẫn tự xưng mình là Vương hậu hợp pháp duy nhất, và không công nhận danh vị của Anne Boleyn. Vua Henry VIII, không chấp nhận sự cứng rắn này của Catherine, chỉ xưng bà là [Dowager Princess of Wales], tức "Vương thái phi xứ Wales", trong trường hợp này đã xác định rõ Catherine chỉ là góa phụ của anh mình[51].

Khoảng thời gian này, vào mùa đông, bà chuyển đến Lâu đài The More, đến năm 1535 thì bà lại chuyển sang Lâu đài Kimbolton, tại vùng Kimbolton, thuộc địa phận Huntingdonshire của Cambridgeshire, miền Đông của nước Anh. Từ đây đến khi qua đời, bà được ghi nhận không bao giờ rời khỏi Lâu đài, trong phòng bà mặc một áo bằng vải tóc (cilice) dành cho các Tín đồ dòng Phan Sinh, bà cầu nguyện và thường xuyên ăn chay. Từ khi bị điều đi khỏi triều đình Anh, Catherine bị cấm không được qua lại với con gái Mary, kể cả viết thư, mặc dù những người hầu và trung gian đã rất thông cảm với tình trạng của hai mẹ con mà vẫn lén lút giúp họ chuyển thư từ cho nhau. Nhận thấy như vậy, Vua Henry cho họ cơ hội có thể gặp nhau và sống cùng nhau, miễn rằng cả hai đều phải công nhận danh vị của Anne Boleyn. Và dù rất yêu thương nhau cùng sự xa cách dày vò cả hai, nhưng cả hai mẹ con Catherine đều nhất quyết không đồng ý[52].

Vào khoảng tháng 12 năm 1535, Catherine cảm mấy mình đang hấp hối, nên viết di chúc cho cháu trai là Hoàng đế Karl V, chủ yếu là gửi gắm Mary cho ông. Ngoài ra, có một bức thư được cho là chính bà viết để gửi cho Henry VIII, người mà bà gọi là "Most dear Lord and husband" (tức "Người chồng và chúa tể kính mến")[53]. Nội dung:

My most dear lord, king and husband,

The hour of my death now drawing on, the tender love I owe you forceth me, my case being such, to commend myself to you, and to put you in remembrance with a few words of the health and safeguard of your soul which you ought to prefer before all worldly matters, and before the care and pampering of your body, for the which you have cast me into many calamities and yourself into many troubles. For my part, I pardon you everything, and I wish to devoutly pray God that He will pardon you also. For the rest, I commend unto you our daughter Mary, beseeching you to be a good father unto her, as I have heretofore desired. I entreat you also, on behalf of my maids, to give them marriage portions, which is not much, they being but three. For all my other servants I solicit the wages due them, and a year more, lest they be unprovided for. Lastly, I make this vow, that mine eyes desire you above all things.

Katharine the Quene.

Tác giả của bức thư này đến nay vẫn không chắc chắn, bởi vì dựa vào tính cách và sự quyết liệt của Catherine, thì lời lẽ bức thư này lại quá cầu khẩn và cảm thấy hối lỗi. Bên cạnh đó, bức thư cũng có nhiều dị bản khác nhau, càng cho thấy rất có khả năng là phóng tác[54].

Ngày 7 tháng 1 năm 1535, Catherine xứ Aragon qua đời tại Lâu đài Kimbolton, thọ 50 tuổi. Ngày hôm sau, khi tin tức về cái chết của bà truyền đến tai Henry VIII, thì cũng lại có tin bà bị đầu độc[55][56][57], và người làm có khả năng là Gregory di Casale[58]. Khi nhận được tin, Henry và Anne đã vui mừng khôn xiết, và sang ngày hôm sau nữa thì cả hai đều bận trang phục màu vàng, biểu tượng của hân hoan tại Anh, và tổ chức một bữa tiệc linh đình[59]. Việc làm này của cặp đôi đã bị nhiều sử gia phỉ nhổ và ghê tởm. Trong khi đó, lại có thuyết rằng ở Tây Ban Nha, màu vàng là biểu tượng của tang tóc, trái ngược với màu đen, do vậy có ý kiến cho rằng Anne và nhà vua đã thực sự đang để tang Catherine. Nhưng lý do biện hộ này rất khiên cưỡng, và hành động này của Anne Boleyn được cho là để giảng hòa với con gái của Catherine là Mary[60]. Trước điều đó, Mary cự tuyệt gay gắt, vì cô cho rằng cái chết của mẹ mình liên quan đến hai vợ chồng, có khả năng Catherine đã bị đầu độc bởi Henry hoặc Anne. Khi khám nghiệm tử thi của Catherine, các nhà khoa học phát hiện phần tim của bà bị tái đen, sau khi xét nghiệm thì đưa ra kết luận đây là dấu hiệu của ưng thư tim thay vì đầu độc.

Vào ngày 29 tháng 1 năm ấy, Catherine xứ Aragon được an táng vào Nhà thờ chính tòa Peterborough. Tang lễ diễn ra khá đơn sơ và kín đáo bởi vì địa vị "Vương thái phi xứ Wales" của bà, nên tang lễ cũng không phải dành cho một Vương hậu. Vua Henry VIII thậm chí còn cấm Mary đến dự tang lễ của mẹ mình[61].

Di sảnSửa đổi

Sự tưởng niệmSửa đổi

Và dù là người Công giáo cũng như là một Infanta ngoại quốc, Catherine xứ Aragon vẫn được dân chúng Anh yêu mến tận khi bà đã qua đời. Cuốn sách "The Education of Christian Women" của Juan Luis Vives chỉ ra rằng, Catherine có công sức và tận tâm tạo tiền đề cho việc giáo dục của phụ nữ, cũng chính cuốn sách đã chỉ ra Catherine đã tạo nên quyền lợi này.

 
Một bức tượng lưu niệm Catherine xứ Aragon tại Alcalá de Henares.

Một đối thủ chính trị của bà, Thomas Cromwell, đã nói rằng "Nếu không phải chỉ vì là phụ nữ, bà ấy có thể vượt qua tất cả người anh hùng trong lịch sử"[62]. Cũng trong sự kiện Evil May Day vào năm 1517, chính Catherine đã bảo vệ công khai những người phá rối trong vụ việc, vì gia đình họ[63]. Bà cũng được kính trọng rộng rãi khi là người khởi xướng một chương trình quy mô cứu tế những người dân nghèo[63]. Bên cạnh đó, sự phục hưng của chủ nghĩa nhân đạo cũng khởi đầu bởi Catherine, khi bà có vai trò bảo hộ những người dẫn đầu chủ nghĩa này tại Anh, bao gồm Erasmus lẫn Thomas More, cả hai người đều kính trọng Catherine và xem bà là một người tử vì đạo[64][65].

Trong thời kỳ trị vì của con gái bà, Mary I của Anh, Catherine được đính chính lại tính chính danh cuộc hôn nhân với Henry VIII, được định hình là "tốt đẹp và có giá trị", sau một thời gian bị hạ nhục bởi Henry VIII và Anne Boleyn. Nữ vương Mary cũng huy động các họa sĩ vẽ lại những tấm chân dung về bà, trong phương diện tôn giáo hoặc tranh chân dung. Đặc biệt, sự kiện ["Legatine Trial"] là sự kiện quan trọng trong đời Catherine đã được nghiên cứu và minh họa lại trong vô số đề tài tranh ảnh về sau, cũng trở thành đề tài tranh luận của những sử gia và những người làm nghệ thuật. Và vở kịch nổi tiếng của William Shakespeare về Henry VIII cũng tái hiện một cách chính xác như vậy. Chính Shakespeare đã nói về Catherine là [The queen of earthly queens; tức "Queen của tất cả các vị Queen trần tục"], nhằm ca ngợi sự vượt trội của bà trong số các Vương hậu hay Nữ vương vào thời điểm ấy[66].

Mộ của bà tại Nhà thờ chính tòa Peterborough, về sau luôn trong tình trạng trang hoàng rực rỡ và luôn đầy hoa của những người thăm viếng, có một số lại tặng quả lưu - đây là do là một phần trên huy hiệu của gia đình cha mẹ bà. Những năm liên tiếp, hàng trăm cuộc tưởng niệm Catherine diễn ra tại khu vực nhà thờ như thông lệ. Vào thế kỉ 20, Vương hậu Mary xứ Teck, vợ của Vua George V của Anh đã cho tu sửa lại một cách quy mô cho mộ của Catherine, cũng cho chỉ định lại danh dự đáng có của bà khi ghi đề mục trên phần giới thiệu của Catherine là ["Queen of England"] - một địa vị chính đáng mà bà đã bị hạ nhục từ khi bị ly khai khỏi triều đình Tudor khi xưa.

Như là một hoạt động danh dự và quy mô nhất vào mỗi năm tại Peterborough, có những lễ cầu siêu để tưởng niệm bà. Một chuỗi những hoạt động quy mô như cầu nguyện, giễu hành và các cuộc hành hương lớn diễn ra với sự chủ trì của người điều hành Peterborough nhằm vinh danh bà, và trong những dịp này, hoa, quả lựu và nến đều được thắp lên hoặc để lên mộ phần của bà. Vào lần kỉ niệm thứ 470 ngày mất của Catherine, Đại sứ Tây Ban Nhã đã đến Vương quốc Liên hiệp Anh để tham dự. Những năm 2010, lời trần tình của bà tại "Legatine Trial" được diễn thuyết quy mô bởi nữ diễn viên Jane Lapotaire.

Trong văn hóa đại chúngSửa đổi

 
Dame Ellen Terry trong vai Catherine xứ Aragon.

Qua nhiều thế kỉ, cùng với Anne Boleyn, Catherine xứ Aragon cũng là nguồn cảm hứng trong nghệ thuật như phim ảnh, tranh ảnhtiểu thuyết, tuy nhiên vai trò của Catherine xứ Aragon đa phần đều là thứ chính hoặc phụ trong những tác phẩm về Anne Boleyn.

Hình ảnh của Catherine xuất hiện nhiều ở kịch và lý lịch học, như học giả người Mỹ là Garrett Mattingly vào thế kỉ 20 có cuốn lý lịch "Katherine of Aragon" nổi tiếng đầu tiên về bà. Sau đó, John E. Paul nghiên cứu về Catherine cùng những người ủng hộ bà trong cuốn sách "Catherine of Aragon and her Friends", một cuốn tiểu sử viết vào năm 1966. Vào những năm đầu thế kỉ 21, học giả Alison Weir bắt đầu nghiên cứu toàn diện về bà qua công trình "The Six Wives of Henry VIII", tiếp đó là Antonia Fraser với cuốn sách cùng tiêu đề y hệt của Weir. Đến kể đến nhất là David Starkey với Six Wives: The Queens of Henry VIII[67][68][69]. Về phương diện kịch, cuộc đời và bài diễn văn huyền thoại của bà được mô tả hoàn hảo trong vở Henry VIII của Shakespeare, về sau được tái hiện vô số lần qua nhiều dạng kịch truyền thống hoặc phim ảnh, với những diễn viên nổi tiếng thủ vai Catherine, gồm có Dame Ellen Terry, Sarah Siddons, Violet VanbrughKate Duchêne. Vở kịch của Shakespeare cho thấy sự cảm thông sâu sắc của đương thời về Catherine xứ Aragon, mặc dù ông đang ở thời đại của Elizabeth I của Anh - con gái của Anne Boleyn, người đã khiến Catherine rơi vào thảm kịch. Nữ diễn viên huyền thoại Sarah Siddons của thế kỉ 18, nhận định với Samuel Johnson rằng bà yêu thích vai diễn này nhất trong tất cả các vai nữ từ khi biết và đọc kịch Shakespeare.

Trong phương diện tiểu thuyết, Catherine cũng được khắc họa, như Katharine, The Virgin Widow, The Shadow of the PomegranateThe King's Secret Matter của Eleanor Hibbert; Falling Pomegranate Seeds: The Duty of Daughters của Wendy J. Dunn; Catherine of Aragon: An Intimate History of Henry VIII's True Wife của Amy Licence; The Constant Princess, The Other Boleyn Girl, The King's CurseThree Sisters, Three Queens của Philippa Gregory; Isabella's Daughter của Charity Bishop; Katherine of Aragon, The True Queen của Alison Weir; và Wolf Hall của Hilary Mantel.

Thời đại phim ảnh cũng không ít các tác phẩm về Catherine xứ Aragon, chủ yếu lấy đề tài về Henry VIII cùng những người vợ của mình. Trong bộ phim nổi tiếng vào thế kỉ 20 và từng được đề cử và thắng giải Oscar, Anne of the Thousand Days, nữ diễn viên Irene Papas thủ vai Catherine xứ Aragon.

Sau đó là những loạt phim như:

Tổ tiênSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â Weir 1991, tr. 59.
  2. ^ Catherine of Aragon, Queen of England.
  3. ^ Catherine of Aragon (1485–1536).
  4. ^ Fraser 1992, tr. 24.
  5. ^ Weir 1991, tr. 15.
  6. ^ Lehman 2011, tr. 283.
  7. ^ a ă Lehman 2011, tr. 284.
  8. ^ Weir 1991, tr. 20.
  9. ^ Dowling 1986, tr. 17.
  10. ^ Sanders & Low 1910, tr. 235.
  11. ^ Goodwin 2008, tr. 166.
  12. ^ Starkey 2003, tr. 45–46.
  13. ^ Tremlett 2010, tr. 73.
  14. ^ Cahill Marrón 2012.
  15. ^ Fraser 1992, tr. 25.
  16. ^ Trên nền đất mà ngày nay là tòa Nhà thờ chính tòa Thánh Paul, Luân Đôn
  17. ^ “Catherine of Aragon Timeline”. Historyonthenet.com. 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2013. 
  18. ^ Lehman 2011, tr. 285.
  19. ^ Maria Elizabeth Budden (1841). True Stories from English History. Chronologically Arranged from the Invasion of the Romans to the Present Time. By a Mother, Author of "True Stories from Ancient History", "Modern History", Etc. 5th Ed... John Harris. tr. 202. 
  20. ^ J. Madison Davis (2012). The Shakespeare Name and Place Dictionary. Routledge. tr. 266. ISBN 978-1-136-64035-3. 
  21. ^ Williams 1971, tr. 15.
  22. ^ Điều này được chứng minh trong chương 18 của Sách Lêvi
  23. ^ Weir 1991, tr. 34.
  24. ^ a ă Lehman 2011, tr. 290.
  25. ^ a ă Lehman 2011, tr. 287.
  26. ^ Eagles 2002, tr. 194.
  27. ^ Rymer, Thomas, ed., Foedera, vol. 13 (1712), p. 370, Catherine was appointed "Rectrix" and "Gubernatrix" of England.
  28. ^ Ellis 1846, tr. 152–154.
  29. ^ Rymer 1741, tr. 49.
  30. ^ Letters & Papers vol. 1 (1920), no. 2299: Catherine was issued with banners at Richmond on 8 September, Letters & Papers, vol.1 (1920), no.2243
  31. ^ Letters & Papers Henry VIII vol. 1 (1920) no. 2278: Calendar State Papers Venice, vol.2, no. 340: Hall, Edward, Chronicle, (1809), 564.
  32. ^ Ellis 1846, tr. 82–84, 88–89.
  33. ^ Bent, Samuel Arthur (1887). Familiar Short Sayings of Great Men . Boston: Ticknor & Co. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  34. ^ Davies, C. S. L.; Edwards, John (tháng 1 năm 2008), “Katherine (1485–1536)”, Oxford Dictionary of National Biography, Oxford, England: Oxford University Press, doi:10.1093/ref:odnb/4891 
  35. ^ Fraser 1992, tr. 95.
  36. ^ Scarisbrick 1997, tr. 154.
  37. ^ Brigden 2000, tr. 114.
  38. ^ Farquhar 2001, tr. 61.
  39. ^ Morris 1998, tr. 166.
  40. ^ Starkey, David (2003) Six Wives: The Queens of Henry VIII, p241
  41. ^ Nguyên văn: "For as much as the queen is gone, I will, in her absence, declare unto you all my lords here presently assembled, she hath been to me as true, as obedient, and as conformable a wife as I could in my fantasy wish or desire. She hath all the virtuous qualities that ought to be in a woman of her dignity, or in any other of baser estate. Surely she is also a noble woman born, if nothing were in her, but only her conditions will well declare the same"
  42. ^ Haigh 1993, tr. 92.
  43. ^ Norton, Elizabeth (2009). Jane Seymour: Henry VIII's True Love. Gloucestershire: Amberly Publishing. tr. 32. ISBN 9781848681026. 
  44. ^ Gelardi, Julia P. (2009). In Triumph's Wake: Royal Mothers, Tragic Daughters, and the Price They Paid for Glory. New York: St. Martin's Press. ISBN 9781466823686. 
  45. ^   Herbermann, Charles biên tập (1913). “Clement VII”. Catholic Encyclopedia. New York: Robert Appleton Company. 
  46. ^ Jestice 2004, tr. 277.
  47. ^ Rex 2003, tr. 27.
  48. ^ Brecht 1994, tr. 44.
  49. ^ Rees 2006, tr. 77.
  50. ^ Williams 1971, tr. 124.
  51. ^ Lehman 2011, tr. 292.
  52. ^ Lehman 2011, tr. 293.
  53. ^ Sharon Turner, The History of England from the Earliest Period to the Death of Elizabeth (Longman, Rees, Orme, Brown and Green,1828)
  54. ^ Giles Tremlett 2010 in Catherine of Aragon, Henry VIII's Spanish Queen ISBN 978-0-571-23511-7 p. 422
  55. ^ Letters and Papers of the Reign of Henry VIII, vol. X, no. 190
  56. ^ Letters and Papers of the Reign of Henry VIII, vol. X, no. 59
  57. ^ Letters and Papers of the Reign of Henry VIII, vol. X, no. 230
  58. ^ Letters and Papers of the Reign of Henry VIII, vol. X, no. 200
  59. ^ Starkey, pp. 549–51; Scarisbrick, p. 436.
  60. ^ E. Cobham Brewer 1810–1897. Dictionary of Phrase and Fable. 1898.
  61. ^ Lehman 2011, tr. 294.
  62. ^ Chapuys 1533, tr. 737.
  63. ^ a ă Deutscher & Bietenholz 1987, tr. 283.
  64. ^ Letters and Papers of Henry VIII, vol. X, no. 212
  65. ^ Letters and Papers of Henry VIII, vol. X, no. 232
  66. ^ Ở đây [Queen] là chỉ chung các vị Queen regnant (Nữ vương) lẫn Queen consort (Vương hậu), theo ý của Shakespeare.
  67. ^ Starkey 2003, tr. 1.
  68. ^ Weir 1991, tr. 1.
  69. ^ Fraser 1992, tr. 1.
  70. ^ Con gái của John xứ Gaunt với người vợ đầu là Blanche nhà Lancaster, điều đó khiến bà là em cùng cha khác mẹ với Catherine nhà Lancaster. Mẹ của Catherine là Constance của Castile.

Tham khảoSửa đổi

  • Weir, Alison (1991). The Six Wives of Henry VIII. Grove press. ISBN 0-8021-3683-4. 
  • Rymer, Thomas ed. Foedera, vol.6 part 1, Hague (1741). letter to the treasurer John Heron. 
  • Lehman, H. Eugene (2011). Lives of England's Reigning and Consort Queens. AuthorHouse Publishing. ISBN 978-1-4634-3057-3. 
  • Thomas B. Deutscher, Peter G. Bietenholz (1987). Contemporaries of Erasmus. University of Toronto Press. ISBN 978-0-8020-2575-3. 
  • Wilkinson, Josephine (2009). Mary Boleyn: the True Story of Henry VIII's Favourite Mistress. Amberley Publishing. ISBN 0-300-07158-2. 
  • Sigman, Mitchell (2011). Steal This Sound. Hal Leonard. ISBN 978-1-4234-9281-8. 
  • Goodwin, Stefan (2008). Africa in Europe: Antiquity into the Age of Global Exploration. Lexington Books. ISBN 978-0-7391-1726-2. 
  • Warnicke, Retha (1991). The Rise and Fall of Anne Boleyn. Cambridge University Press. ISBN 0-521-40677-3. 
  • Ellis, Henry, ed. (1846). Original Letters Illustrative of English History, 3rd Series, vol.1. Richard Bentley. 
  • Frederick Sanders, Sir Sidney Low (1910). The dictionary of English history. 
  • Fraser, Antonia (1992). The Wives of Henry VIII. Vintage. ISBN 0-679-73001-X. 
  • Strickland, Agnes. Lives of the queens of England: from the Norman conquest, Volume 2. 
  • Lacey, Robert (1972). The Life and Times of Henry VIII. Book Club Associates. 
  • Chapuys, Eustace (Imperial Ambassador) (1533). Calendar of State Papers, Spanish IV. 
  • Froude, James Anthony (1891). The Divorce of Catherine of Aragon. NEW YORK, CHARLES SCRIBNER'S SONS. 
  • Maclagan, Michael (1999). Line of Succession: Heraldry of the Royal Families of Europe. Little, Brown & Co. 
  • Haigh, Christopher (1993). English Reformations. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-822162-3. 
  • Rees, Fran (2006). William Tyndale: Bible Translator And Martyr. Compass Point Books. ISBN 978-0-7565-1599-7. 
  • Dowling, Maria (1986). Humanism in the Age of Henry VIII. Other. ISBN 978-0-7099-0864-7. 
  • Scarisbrick, J. J (1997). Yale English Monarchs - Henry VIII. Yale University Press. ISBN 978-0-300-07158-0. 
  • Lofts, Norah (1979). Anne Boleyn. ISBN 0-698-11005-6. 
  • Brecht, Martin (1994). Martin Luther: shaping and defining the Reformation, 1521–1532. Fortress Press. ISBN 978-0-8006-2814-7. 
  • Brigden, Susan (2000). New Worlds, Lost Worlds The Rule of the Tudors, 1485–1603. Penguin (Non-Classics). ISBN 0-14-200125-2. 
  • Morris, T. A (1998). Europe and England in the Sixteenth Century. Routledge. ISBN 978-0-415-15041-5. 
  • Morton, Henry Vollam (1955). A stranger in Spain. Methuen. ISBN 978-0-413-52200-9. 
  • Eagles, Robin (2002). The Rough Guide History of England. Rough Guides. ISBN 978-1-85828-799-7. 
  • Rex, Richard (2003). The Theology of John Fisher. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-54115-2. 
  • Jestice, Phyllis G. (2004). Holy People of the World: A Cross-Cultural Encyclopedia, Volume 1. ABC-CLIO. ISBN 978-1-57607-355-1. 
  • Starkey, David (2003). Six Wives: The Queens of Henry VIII. ISBN 0-06-000550-5. 
  • Williams, Neville (1971). Henry VIII and His Court. Macmillan Pub Co. ISBN 978-0-02-629100-2. 
  • P.G. Bietenholz, Thomas B. Deutscher (2003). Contemporaries of Erasmus: A Biographical Register of the Renaissance and Reformation. University of Toronto Press. 
  • Ibn Khaldun, Viguer María Jesús (1900). The Mediterranean in the 14th century: rise and fall of Empires. The Order of the Sash: From Alfonso XI to the House of Trastamara. 

Nguồn InternetSửa đổi

Thư mụcSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi