Mở trình đơn chính

Catherine xứ Aragon

Hoàng hậu Anh, công chúa Tây Ban Nha

Catherine xứ Aragon (tiếng Anh: Catherine of Aragon; tiếng Tây Ban Nha: Catalina de Aragón; 16 tháng 12, 1485 - 7 tháng 1, 1536) là người vợ đầu tiên của Henry VIII của Anh, trở thành Vương hậu nước Anh từ năm 1509 đến năm 1533; trước đó bà từng là vợ của người anh quá cố của Henry, Vương công Arthur.

Catherine xứ Aragon
Catalina de Aragón, por un artista anónimo.jpg
Vương hậu nước Anh
Tại vị11 tháng 6, năm 1509
23 tháng 5, năm 1533
(&0000000000000023.00000023 năm, &0000000000000346.000000346 ngày)
Đăng quang24 tháng 6, năm 1509
Tiền nhiệmElizabeth xứ York
Kế nhiệmAnne Boleyn
Thông tin chung
Phối ngẫuArthur, Vương công xứ Wales
Henry VIII của Anh
Hậu duệHenry, Công tước xứ Cornwall
Mary I của Anh
Thân phụFerdinand II của Aragon
Thân mẫuIsabella I của Castilla
Sinh16 tháng 12, 1485
Archbishop's Palace, Alcalá de Henares, Tây Ban Nha
Mất7 tháng 1 năm 1536(1536-01-07) (50 tuổi)
Kimbolton Castle, Cambridgeshire, nước Anh
An tángPeterborough Cathedral
Tôn giáoGiáo hội Rôma
Chữ ký của Catherine xứ Aragon

Xuất thân là một công chúa Tây Ban Nha, Catherine là con gái út của Song vương Fernando II của AragonIsabella I của Castilla, hai vị Quân chủ Công giáo trứ danh đương thời, có thể thấy bà là người có xuất thân cao quý và hiển hách nhất trong số 6 người vợ của Henry VIII. Khi lên 3 tuổi bà được đính ước cho Vương công Arthur, anh trai của Henry và là người được định sẽ kế vị ngai vàng. Hai người kết hôn vào năm 1501, 5 tháng sau thì Vương công Arthur chết khi chỉ 15 tuổi. Năm 1507, bà trở thành nữ sứ giả, đại diện cho cha mẹ mình tại triều đình nước Anh, trở thành nữ sứ giả đầu tiên trong lịch sử Châu Âu.[1] Sau đó bà được gả cho em trai Arthur, tức là Henry, vào năm 1509, bà lớn hơn Henry 6 tuổi, lúc đó bà đã 24 tuổi còn Henry chỉ vừa 18 tuổi. Những khi Henry phải đi khỏi nước Anh, bà giữ vai trò nhiếp chính và được đánh giá cao, trong đó có việc nước Anh chiến thắng Trận Flodden trước Scotland và bà giữ vai trò hết sức quan trọng.[2]

Vào khoảng năm 1526, Vua Henry bắt đầu hứng thú và theo đuổi Anne Boleyn, em gái của người tình trước của ông là Mary Boleyn. Henry say mê Anne và quyết định hủy hôn với Catherine vì bà không sinh cho ông người con trai nào, chỉ duy nhất có cô con gái mà về sau trở thành Mary I của Anh. Tuy nhiên, ý định này của Henry gặp phải trở ngại lớn do bắt buộc phải thông qua Giáo hoàng, mà vị Giáo hoàng khi ấy là Giáo hoàng Clêmentê VII đang bị kiềm hãm bởi người cháu trai gọi Catherine bằng dì, Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh. Nhiều người tin rằng thông qua những tác động của Anne Boleyn, Vua Henry tiến hành những sự kiện khiến nước Anh dần tách khỏi Giáo hội Rôma, biến nước Anh thành một nước có giáo phái riêng gọi là Giáo hội Anh do nhà vua đích thân điều khiển. Năm 1533, Vua Henry tuyên bố hủy hôn lễ với Catherine và cưới Anne Boleyn trong giáo đường của Giáo hội Anh, bất chấp sự bác bỏ của Giáo hoàng. Cuộc ly hôn này giữa Henry và Catherine đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong toàn bộ lịch sử nước Anh, và để hạ thấp cũng như có lý do chính đáng cho việc hủy hôn với Catherine, Vua Henry đã tuyên bố Catherine là [Dowager Princess of Wales; Vương thái phi xứ Wales], xem Catherine là góa phụ của anh trai mình, do đó Catherine phải rời khỏi triều đình nước Anh.

Vương hậu Catherine không tán thành quyết định tự mình làm chủ Giáo hội Anh của Henry, và tự tuyên bố mình là người vợ hợp pháp duy nhất của Henry, cũng như là Vương hậu chính thống duy nhất của Anh quốc hiện tại. Sự cứng rắn của bà được tuyên dương cùng với sự ủng hộ nhiệt liệt của dân chúng[3]. Sau khi bị trục xuất khỏi triều đình nước Anh, Catherine về sống tại Kimbolton Castle, tại đây bà qua đời vào ngày 7 tháng 1 năm 1536. Cái chết của bà dấy lên sự thương tiếc cho toàn bộ người dân Anh, những người về sau luôn xem bà là hình tượng kính mến của Vương hậu nước Anh (Queen of England).

Mục lục

Thân thếSửa đổi

Xuất thân cao quýSửa đổi

 
Catherine vào năm 11 tuổi.

Catherine được sinh ra tại Archbishop's Palace ở Alcalá de Henares thuộc vùng Maddrid, Tây Ban Nha vào ngày 16 tháng 12 năm 1485. Nguyên tên của bà được phiên là [Catalina], nhưng được đổi thành [Katherine] hoặc [Catherine] sau khi bà qua nước Anh. Cha của bà là Fernando II của Aragon, một vị quốc vương xuất thân từ dòng họ danh giá Nhà TrastámaraBán đảo Iberia, có quyền cai trị các Vương quốc Aragon, Castile, NavarreVương quốc Napoli. Mẹ bà là Nữ vương Isabella I của Castilla, con gái của Joan II xứ Castilla, xuất thân từ nhánh chính gốc của nhà Trastámara cai trị Vương quốc Castilla[4]. Theo cứ liệu đương thời, Công chúa Catherine được mô tả có vóc dáng nhỏ,[5] khuôn mặt tròn đầy đặn, tóc đỏ, mắt xanh và nước danh sáng màu[6].

Xét theo bên ngoại, bà xuất xứ dòng dõi người Anh, khi có cụ tổ mẫu là Catherine xứ LancasterPhilippa xứ Lancaster đều là con gái của John xứ Gaunt, Công tước xứ Lancaster - con trai thứ của Edward III của Anh. Theo đó, Catherine là em họ 3 đời của Henry VII của Anh[7] và là em gái họ 4 đời của Elizabeth xứ York; là cha mẹ của chồng bà, Henry VIII của Anh.

Từ nhỏ, Công chúa Catherine được giáo dục bởi Alessandro Geraldini, một giáo sĩ cao cấp trong triều đình của cha mẹ bà, người đã chỉ dạy Catherine nhiều thứ như số học, tôn giáo, luật pháp, văn học, lịch sử, triết họcthần học. Bà được giảng dạy rất kĩ về tôn giáo, với cốt lõi lớn là lòng mộ đạo Công giáo, điều ảnh hưởng rất lớn đến phần lớn cuộc đời bà[8]. Học giả Erasmus nhận định ngay từ nhỏ Catherine đã có khuynh hướng yêu thích văn học và rất thành công trong việc lĩnh hội những môn học này[9].

Định hôn ướcSửa đổi

 
Arthur, Vương công xứ Wales.

Từ những năm tuổi còn rất sớm, Catherine được nhận định là vị hôn thê rất phù hợp với Arthur, Vương công xứ Wales, người thừa kế của Henry VII do dòng dõi nguồn gốc từ vương thất Anh mà Catherine có được từ mẹ mình. Thực tế, Catherine là người có quyền thừa kế ngai vàng nước Anh hơn cả Henry VII, vì bà là hậu duệ của hai cuộc hôn nhân chính gốc từ John của Gaunt, Công tước xứ Lancaster: Blanche xứ LancasterConstance xứ Castile. Ngược lại, Henry VII lại là hậu duệ của cuộc hôn nhân thứ ba của ngài Công tước Gaunt với người tình Katherine Swynford. Những người con của Katherine chỉ được thừa nhận hợp pháp mãi khi cuộc hôn nhân của họ diễn ra, và trước khi Henry VII lên ngôi thì dòng dõi này bị tước bỏ toàn bộ quyền thừa kế ngai vàng Anh. Vì lý do xuất thân từ một nhánh bất hợp pháp, lại từng bị tước tư cách kế vị, nhà Tudor hông được thừa nhận bởi hầu hết quốc gia Châu Âu, trừ nhà Trastámara, dòng dõi đang có uy tín nhất Châu Âu khi đó với sự trị vì của Quân chủ Công giáo, song vương Fernando II và Isabela I, cũng là cha mẹ của Catherine.

Do đó, vương tộc Tudor bằng mọi giá đã thuyết phục nhà Trastámara liên hôn, vì điều đó làm tăng sự ảnh hưởng của Trastámara cũng như lấy được uy tín của Tudor trước những quốc gia Châu Âu. Cặp đôi được kết hôn ủy nhiệm vào ngày 19 tháng 5 năm 1499 và trao đổi qua thư từ bằng ngôn ngữ quốc tế khi ấy, tiếng Latinh. Khi Arthur đã 15 tuổi, cả hai mới chính thức kết hôn[10].

Khi Catherine đến London, bà đã mang theo một đoàn tùy tùng người Châu Phi theo mình, trong đó có lính thổi kèn John Blanke. Họ là những người Châu Phi đầu tiên đến London được ghi nhận và điều này khiến triều đình cũng như dân chúng London bàn tán về sự hùng mạnh của gia đình vị công chúa đến từ bên kia đại dương[11].

Vương phi xứ WalesSửa đổi

 
Bức tranh được cho là chân dung của Catherine.

Catherine và Arthur gặp nhau vào ngày 4 tháng 11 năm 1501, tại Dogmersfield, Hampshire[12][13][14]. Không ai biết rõ cả hai cảm nhận về nhau ra sao, nhưng Arthur sau đó đã viết thư cho bố vợ tương lai rằng sẽ là một người chồng đích thực và yêu thương cô dâu của mình, Arthur còn nói cha mẹ của mình rằng ông rất hạnh phúc khi nhìn ngắm khuôn mặt của cô vợ tương lai đáng yêu. Cả hai trao đổi bằng tiếng Latinh, nhưng ít khi hiểu nhau rõ ràng vì cả hai tuy cùng học tiếng Latinh nhưng lại có phát âm khác nhau[15]. Vào ngày 14 tháng 11, cặp đôi kết hôn ở Old St Paul's Cathedral[7]. Một của hồi môn trị giá 200.000 crowns được thỏa thuận[16].

Sau khi kết hôn, Arthur chuyển đến Lâu đài Ludlow, nơi Arthur thực hiện bổn phận của mình như một Vương công xứ Wales là chỉ huy Hội đồng xứ Wales và Marches (The Council of Wales and the Marches). Catherine với tư cách là Vương phi xứ Wales cũng đi theo Arthur, cả hai cùng ở tại Lâu đài Lodge trong vùng Ludlow. Chỉ trong vài tháng sau, tai họa ập đến khi cơn bệnh Hãn nhiệt (Sweating sickness) ập xuống khiến cả hai vợ chồng trẻ ngã quỵ. Đó là một đại dịch đã lan tỏa khắp toàn bộ khu vực của nước Anh. Cơn dịch đã cướp đi sinh mạng của Arthur vào ngày 2 tháng 4 năm 1502, chỉ duy nhất Catherine sống sót qua cơn bệnh[17].

Vào lúc này, Henry VII đối diện với việc trao trả toàn bộ số hồi môn 200.000 crowns, một nửa trong số đó chưa được bàn giao, vì Catherine theo lệ sẽ bị gọi về và tái giá[18]. Sau cái chết của Vương hậu Elizabeth vào tháng 2 năm 1503, Henry VII dự tính sẽ cưới Catherine làm Kế hậu nhằm giữ lại quyền đòi hỏi số hồi môn hời này, nhưng vì sự phản đối của Vua Ferdinand II cùng sự bất hợp pháp gay gắt, ý tưởng này nhanh chóng tiêu tan[19]. Để đối phó, Henry VII nên duyên Catherine với em trai của Arthur, Henry, Công tước xứ York, người nhỏ hơn Catherine tới 5 tuổi.

Cái chết của Nữ vương Isabel ngay lúc này làm giảm đi đáng kể giá trị của Catherine trong cuộc buôn bán hôn nhân này. Vương quốc Castile là một quốc gia rộng lớn hơn rất nhiều so với Aragon, và sau cái chết của Isabel thì người kế vị là người chị thần trí không ổn định của Catherine, Juanna. Cuộc hôn nhân bị hoãn để đến khi Henry đủ tuổi, nhưng quốc vương Ferdinand II cứ trì trệ mãi trong việc bàn giao một nửa số hồi môn còn lại khiến triều đình 2 bên nghi ngờ liệu cuộc hôn nhân có thể diễn ra như đã dự định. Trong thời gian này, Catherine gần như là một tù nhân chính trị tại Durham House[20].

Năm 1507, Catherine chính thức trở thành nữ sứ giả nhân danh cha mình tại nước Anh, trở thành nữ sứ giả đầu tiên trong lịch sử Châu Âu[1]. Henry VII cùng các cận thần hi vọng sẽ dễ dàng điều khiển Catherine, nhưng bà đã khiến họ thất vọng bởi sự cương quyết và bản lĩnh của mình[1].

Vương hậu nước AnhSửa đổi

Tái hôn với Henry VIIISửa đổi

 
Bản khắc gỗ lễ đăng quang của Henry và Catherine, thế kỉ thứ 16.
 
Phù hiệu của Catherine khi là Vương hậu của nước Anh.

Cuộc hôn nhân giữa Catherine và Henry còn bị hoãn là do Giáo hoàng cần làm một cuộc miễn trừ vì luật Công giáo cấm người em trai cưới quá phụ của anh mình (Lev. 18:16[a]). Catherine phản hồi rằng cuộc hôn nhân của mình với Arthur chưa hoàn thành (tức là chưa động phòng), và theo luật Công giáo cuộc hôn nhân chưa được hoàn thành thì nó không có giá trị[21][22].

Sau khi cuộc hôn nhân giữa Catherine và Arthur được tuyên bố vô hiệu lực, Công nương Catherine thành hôn với em trai của Arthur, Quốc vương Henry VIII của Anh. Lễ thành hôn diễn ra vào ngày 11 tháng 6 năm 1509, khoảng 7 năm sau cái chết của Arthur và chỉ tầm 2 tháng sau khi Henry VIII kế vị (ông kế vị ngày 22 tháng 4 cùng năm)[23]. Buổi lễ được diễn ra khá riêng tư tại một nhà thờ thuộc Dòng Phan Sinh ở bên ngoài Greenwich Palace[24][23].

Vào ngày 23 tháng 6 cùng năm, triều đình Anh chuẩn bị lễ đăng quang cho Quốc vương và Vương hậu, theo thông lệ thì cả hai sẽ qua đêm cùng nhau ở Tháp London. Sang ngày hôm sau, 24 tháng 6, là ngày Chủ nhật và cũng là Hạ chí, Henry và Catherine đều được sức dầu thánh và trao Vương miện cùng nhau tại Tu viện Westminster, bởi Tổng giám mục Canterbury tên William Warham. Sau buổi lễ đăng quang, triều đình tổ chức một biểu tiệc linh đình tại đại sảnh của Cung điện Westminster, kèm theo đó là hàng loạt người được phong Hiệp sĩ để chức mừng đôi Vương-Hậu mới của Vương quốc Anh. Khi đó, Catherine đã 23 tuổi, còn Henry mãi 4 ngày sau mới vừa tròn 18 tuổi.

Sự ảnh hưởngSửa đổi

Vào ngày 11 tháng 6 năm 1513, Henry đã ủy nhiệm Catherine trở thành nhiếp chính của nước Anh khi ông phải đến nước Pháp tiến hành chiến dịch quân sự. Địa vị của Catherine, đầy đủ là [Governor of the Realm and Captain General], nghĩa là "Người quản lý toàn quốc, kiêm nhiệm Đại đô thống", chính điều này đã cho phép Catherine nắm đại quyền lớn nhất của Vương quốc Anh[25].

Khi Công tước Louis I d'Orléans bị bắt tại Thérouanne, Henry đã gửi ông ta đến chỗ của Catherine, nhưng bà đã chỉ định Thomas Wolsey giam cầm vị Công tước người Pháp vào tháp London để đối phó với quân đội Scotland đang nhăm nhe ở phương Bắc. Vào lúc ấy, nước Anh đang mạnh mẽ, trong khi nước Anh không đủ tài lực để đối phó, chính Catherine phải viết với Wolsey rằng: [God to sende us as good lukke against the Scotts, as the King hath ther][26]. Bà bận rộn điểm danh quân đội tại Lâu đài Richmond, sang ngày 3 tháng 9, Catherine chỉ định Thomas Lovell triển khai thúc quân chống lại quân đội Scotland[27].

Sau khi điều động Thomas Lovell, đích thân Catherine đã trang bị áo giáp, cưỡi ngựa và phía Bắc[28]. Trận Flodden Field diễn ra, quân Anh chiến thắng, tin báo về đến Catherine khi bà ở gần Buckingham, cách London tầm 160 km về phía Bắc[29]. Từ Tu viện Woburn, Catherine gửi tin báo mừng chiến thắng cho Henry, kèm theo áo choàng dính đầy máu của Vua James IV của Scotland - người đã tử trận trong cuộc chiến, và Henry đã dùng nó như một chiến lợi phẩm trong cuộc vây hãm thành Tournai[30].

Tổ tiênSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â Weir 1991, tr. 59.
  2. ^ Catherine of Aragon, Queen of England.
  3. ^ Catherine of Aragon (1485–1536).
  4. ^ Lehman 2011, tr. 283.
  5. ^ Fraser 1992, tr. 24.
  6. ^ Weir 1991, tr. 15.
  7. ^ a ă Lehman 2011, tr. 284.
  8. ^ Weir 1991, tr. 20.
  9. ^ Dowling 1986, tr. 17.
  10. ^ Sanders & Low 1910, tr. 235.
  11. ^ Goodwin 2008, tr. 166.
  12. ^ Starkey 2003, tr. 45–46.
  13. ^ Tremlett 2010, tr. 73.
  14. ^ Cahill Marrón 2012.
  15. ^ Fraser 1992, tr. 25.
  16. ^ “Catherine of Aragon Timeline”. Historyonthenet.com. 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2013. 
  17. ^ Lehman 2011, tr. 285.
  18. ^ Maria Elizabeth Budden (1841). True Stories from English History. Chronologically Arranged from the Invasion of the Romans to the Present Time. By a Mother, Author of "True Stories from Ancient History", "Modern History", Etc. 5th Ed... John Harris. tr. 202. 
  19. ^ J. Madison Davis (2012). The Shakespeare Name and Place Dictionary. Routledge. tr. 266. ISBN 978-1-136-64035-3. 
  20. ^ Williams 1971, tr. 15.
  21. ^ Weir 1991, tr. 34.
  22. ^ Lehman 2011, tr. 290.
  23. ^ a ă Lehman 2011, tr. 287.
  24. ^ Eagles 2002, tr. 194.
  25. ^ Rymer, Thomas, ed., Foedera, vol. 13 (1712), p. 370, Catherine was appointed "Rectrix" and "Gubernatrix" of England.
  26. ^ Ellis 1846, tr. 152–154.
  27. ^ Rymer 1741, tr. 49.
  28. ^ Letters & Papers vol. 1 (1920), no. 2299: Catherine was issued with banners at Richmond on 8 September, Letters & Papers, vol.1 (1920), no.2243
  29. ^ Letters & Papers Henry VIII vol. 1 (1920) no. 2278: Calendar State Papers Venice, vol.2, no. 340: Hall, Edward, Chronicle, (1809), 564.
  30. ^ Ellis 1846, tr. 82–84, 88–89.
  31. ^ Con gái của John of Gaunt, 1st Duke of Lancaster với người vợ đầu là Blanche of Lancaster, điều đó bà là em cùng cha khác mẹ với Catherine of Lancaster. Mẹ của Catherine là Constance of Castile.

Tham khảoSửa đổi

  • Weir, Alison (1991). The Six Wives of Henry VIII. Grove press. ISBN 0-8021-3683-4. 
  • Rymer, Thomas ed. Foedera, vol.6 part 1, Hague (1741). letter to the treasurer John Heron. 
  • Lehman, H. Eugene (2011). Lives of England's Reigning and Consort Queens. AuthorHouse Publishing. ISBN 978-1-4634-3057-3. 
  • Thomas B. Deutscher, Peter G. Bietenholz (1987). Contemporaries of Erasmus. University of Toronto Press. ISBN 978-0-8020-2575-3. 
  • Wilkinson, Josephine (2009). Mary Boleyn: the True Story of Henry VIII's Favourite Mistress. Amberley Publishing. ISBN 0-300-07158-2. 
  • Sigman, Mitchell (2011). Steal This Sound. Hal Leonard. ISBN 978-1-4234-9281-8. 
  • Goodwin, Stefan (2008). Africa in Europe: Antiquity into the Age of Global Exploration. Lexington Books. ISBN 978-0-7391-1726-2. 
  • Warnicke, Retha (1991). The Rise and Fall of Anne Boleyn. Cambridge University Press. ISBN 0-521-40677-3. 
  • Ellis, Henry, ed. (1846). Original Letters Illustrative of English History, 3rd Series, vol.1. Richard Bentley. 
  • Frederick Sanders, Sir Sidney Low (1910). The dictionary of English history. 
  • Fraser, Antonia (1992). The Wives of Henry VIII. Vintage. ISBN 0-679-73001-X. 
  • Strickland, Agnes. Lives of the queens of England: from the Norman conquest, Volume 2. 
  • Lacey, Robert (1972). The Life and Times of Henry VIII. Book Club Associates. 
  • Chapuys, Eustace (Imperial Ambassador) (1533). Calendar of State Papers, Spanish IV. 
  • Froude, James Anthony (1891). The Divorce of Catherine of Aragon. NEW YORK, CHARLES SCRIBNER'S SONS. 
  • Maclagan, Michael (1999). Line of Succession: Heraldry of the Royal Families of Europe. Little, Brown & Co. 
  • Haigh, Christopher (1993). English Reformations. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-822162-3. 
  • Rees, Fran (2006). William Tyndale: Bible Translator And Martyr. Compass Point Books. ISBN 978-0-7565-1599-7. 
  • Dowling, Maria (1986). Humanism in the Age of Henry VIII. Other. ISBN 978-0-7099-0864-7. 
  • Scarisbrick, J. J (1997). Yale English Monarchs - Henry VIII. Yale University Press. ISBN 978-0-300-07158-0. 
  • Lofts, Norah (1979). Anne Boleyn. ISBN 0-698-11005-6. 
  • Brecht, Martin (1994). Martin Luther: shaping and defining the Reformation, 1521–1532. Fortress Press. ISBN 978-0-8006-2814-7. 
  • Brigden, Susan (2000). New Worlds, Lost Worlds The Rule of the Tudors, 1485–1603. Penguin (Non-Classics). ISBN 0-14-200125-2. 
  • Morris, T. A (1998). Europe and England in the Sixteenth Century. Routledge. ISBN 978-0-415-15041-5. 
  • Morton, Henry Vollam (1955). A stranger in Spain. Methuen. ISBN 978-0-413-52200-9. 
  • Eagles, Robin (2002). The Rough Guide History of England. Rough Guides. ISBN 978-1-85828-799-7. 
  • Rex, Richard (2003). The Theology of John Fisher. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-54115-2. 
  • Jestice, Phyllis G. (2004). Holy People of the World: A Cross-Cultural Encyclopedia, Volume 1. ABC-CLIO. ISBN 978-1-57607-355-1. 
  • Starkey, David (2003). Six Wives: The Queens of Henry VIII. ISBN 0-06-000550-5. 
  • Williams, Neville (1971). Henry VIII and His Court. Macmillan Pub Co. ISBN 978-0-02-629100-2. 
  • P.G. Bietenholz, Thomas B. Deutscher (2003). Contemporaries of Erasmus: A Biographical Register of the Renaissance and Reformation. University of Toronto Press. 
  • Ibn Khaldun, Viguer María Jesús (1900). The Mediterranean in the 14th century: rise and fall of Empires. The Order of the Sash: From Alfonso XI to the House of Trastamara. 

Nguồn InternetSửa đổi

Thư mụcSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu